Kiểu nhà văn song ngữ trong tập truyện ngắn Mỹ nhân Nga của V….

Nabokov đã quá nổi tiếng với lolita, nhưng những truyện ngắn của ông là kết tinh những tinh hoa của tư tưởng nghệ thuật và tác giả trong thời gian Nabokov lưu vong từ Âu sang Mỹ. Và Vẻ đẹp Nga, tập truyện ngắn trong Tuyển tập truyện ngắn Nabokov là một ví dụ điển hình như vậy.

Xem thêm: Lolita: Tình yêu ma quỷ, cháy bỏng và gỉ sét – Một tác phẩm điên rồ của Vladimir Nabokov

Vẻ đẹp nga

  1. Mặt bằng tạo ra một nhà văn song ngữ trong sáng tác của V. Nabokov.

Theo nhà nghiên cứu Phạm Gia Lâm, “Các khái niệm song ngữ, song ngữ (tiếng Anh: bilingualism) gắn liền với lĩnh vực giao tiếp đa văn hóa / liên văn hóa. Trong từ điển ngôn ngữ và văn hóa, các khái niệm này mặc dù được diễn giải ở các cấp độ khác nhau nhưng đều có một nội hàm thống nhất: song ngữ / song ngữ dùng để chỉ tư cách của một cá nhân hoặc một điểm cộng. cộng đồng (nhóm xã hội, dân tộc, …) có khả năng sử dụng thành thạo ngôn ngữ thứ hai, ngoài tiếng mẹ đẻ / thuộc nền văn hóa thứ hai, ngoài nền văn hóa của mình. Trong thế kỷ XX, tình trạng di cư và nhập cư diễn ra ở nhiều nơi trên thế giới, tạo điều kiện cho song ngữ / song ngữ phát triển ”.

Các tác giả là người song ngữ, họ là những người rời bỏ quê hương, đất nước cũ để đến một đất nước mới, một vùng đất mới. Tại đây, họ được tiếp xúc với ngôn ngữ mới và hướng đến đối tượng là người bản xứ. Những tác giả đó, họ có thể sử dụng thành thạo và sáng tác bằng cả hai thứ tiếng, ngoài tiếng mẹ đẻ, còn có ngôn ngữ mà họ sinh sống. Và trong các sáng tác của họ, ngoài ý thức về quê hương, còn có sự giao thoa văn hóa giữa đất nước nơi họ sinh ra và đất nước nơi họ hiện đang sinh sống. Có thể kể đến một số tên tuổi tác giả song ngữ tiêu biểu của thế kỷ XX như: Josept Conrad, Thomas Mann, Samuel Beckett, Cao Hanh Kien… và Vladimir Nabokov.

Vladimir Nabokov thuộc nhóm các nhà văn Nga ở nước ngoài trong Cộng đồng người Nga ở nước ngoài, xuất hiện và hình thành sau Cách mạng Tháng Mười Nga. Sống lưu vong, các nhà văn Nga ở nước ngoài bị tách khỏi không gian văn hóa, xã hội quen thuộc, cảm thấy lạc lõng nơi đất khách quê người, đồng thời thấy con đường về nước ngày càng mịt mờ. Số phận, tâm trạng, ý thức sáng tạo, chủ đề Tổ quốc đã thống nhất họ thành một đội, tập hợp các nhà văn từ cả ba đợt sơ tán.

>>> Xem thêm :  Cuộc diễu hành thầm lặng (Higashino Keigo) – Cuộc diễu hành mang theo án tử

Văn học Nga ở nước ngoài tồn tại trong lòng người dân, khi các nền văn hóa ngoại lai không cùng chiều và có phần lấn át văn hóa Nga. Vì vậy, việc ghi nhớ nước Nga giúp họ hiện thực hóa sứ mệnh của mình. Họ sử dụng tiếng Nga là ngôn ngữ sáng tạo.

Nhưng khác với những nhà văn như Ivan Bunin, mặc dù cũng trong làn sóng di tản đầu tiên từ năm 1918 cho đến khi Thế chiến thứ hai kết thúc, V. Nabokov lại thuộc lớp những người trẻ tuổi bị lãng quên. Anh rời nước Nga khi còn trẻ, chưa có danh tiếng và tiếng tăm ở nước ngoài.

Nabokov lưu vong sang nhiều nước, nhờ vậy mà ông có vốn ngoại ngữ phong phú. Nabokov biết tiếng Nga, Anh, Pháp, Đức nhưng như anh nói: “Tôi là một nhà văn Mỹ, sinh ra ở Nga, học ở Anh, nơi tôi học văn học Pháp trước khi chuyển đến Đức. mười lăm năm. Đầu tôi nói bằng tiếng Anh, trái tim tôi cảm thấy bằng tiếng Nga và tai tôi nghe thấy tiếng Pháp.

Vì vậy, đối với Nabokov, dù ông đã đi đâu và không trở lại nước Nga kể từ khi đi đày, nước Nga luôn hiện hữu trong trái tim ông, trong cách ông cảm nhận sự việc, cách ông xây dựng, diễn giải bằng lời nói. Chính vì vậy, những tác phẩm của Nabokov luôn có những mảnh ký ức lưu giữ về một nước Nga thời tiền cách mạng, ý thức tự hào dân tộc, giá trị của nền văn minh tinh thần Nga; muốn tác động đến đời sống xã hội trong nước để có được những chuyển biến chính trị; phản ánh kinh nghiệm bi thảm của những sự kiện đã xảy ra ở Nga.

Đồng thời, trong văn học, anh cũng có sự tiếp thu văn hóa châu Âu và tạo nên những mảng màu văn học phức hợp cũng như hình tượng tác giả song ngữ / song ngữ được thể hiện trong các sáng tác của anh.

  1. Hình ảnh Nabokov với mối quan hệ văn hóa Nga trong tập truyện ngắn Vẻ đẹp nga

Vẻ đẹp Nga của Nabokov

Là một nhà văn nước ngoài, một thanh niên bị lãng quên của làn sóng nhập cư đầu tiên nhưng luôn mang dáng hình của đất nước, với Nabokov, văn hóa Nga trong tập truyện ngắn Vẻ đẹp ngaTrước hết là hình ảnh quê hương xưa trước cách mạng, cùng với đó là ý thức của nhà văn trong việc giữ gìn và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống.

Cảm xúc ấy, được nhà văn gửi gắm trong hình bóng một cô gái Nga trong sáng, xinh đẹp với nỗi nhớ về quá khứ trong cuộc sống quý tộc. Dù sống lưu vong ở nhiều quốc gia khác nhau, nhưng tâm trí cô vẫn hướng về nước Nga, rồi cô kết hôn với một người Đức gốc Nga trong truyện ngắn cùng tên. Qua đó, chúng ta thấy bóng dáng một Nabokov lưu vong ở nước ngoài Vẻ đẹp nga tên Olga Alexseevna.

Hay miêu tả đất nước Nga truyền thống với những bức tranh thiên nhiên tươi đẹp của tuổi thơ, những cánh rừng với cây linh sam đen, cây bạch dương… trong truyện ngắn. Cây ma. Hình ảnh con bướm xuất hiện mờ ảo trong tác phẩm: Giáng sinh gợi nhớ về một Nabokov có thói quen, sở thích và đam mê bất tận với loài bướm từ khi còn là một đứa trẻ. Hay những hình ảnh tôn giáo xuất hiện trong các tác phẩm như một sự cứu rỗi tâm hồn. Hay truyện ngắn Mối tình đầu là những kỷ niệm bất tận của tác giả về tuổi thơ với đất nước Nga xinh đẹp, được ông đưa vào cuốn tự truyện của mình sau này: Nói đi, trí nhớ.

Như vậy, với một nhà văn ở nước ngoài như Nabokov, ông vẫn luôn giữ hình ảnh nước Nga trong tim. Một nước Nga với vẻ đẹp cổ kính. Đây cũng là điểm chung giữa hình ảnh Nabokov với các nhà văn Nga khác ở nước ngoài nói chung, và những nhà văn chịu cảnh đày ải trong làn sóng sơ tán đầu tiên nói riêng.

>>> Xem thêm :  Review sách: Sức mạnh niềm tin – Niềm tin tạo nên tất cả

Chiến tranh không phải là chủ đề chính trong các truyện ngắn của Nabokov trong tập Vẻ đẹp nga. Nhưng nó vẫn hiện lên như một cảm giác nhức nhối, ám ảnh đối với một nhà văn như Nabokov, một nhà văn sống lưu vong sau Cách mạng Nga và không quay trở lại nước Nga nữa. Đó là nỗi ám ảnh tâm lý thời hậu chiến của đại úy Ivanov trong truyện ngắn Dao cạo về việc bị tra khảo, bị nghi ngờ, bị trục xuất về nước … Hay hình ảnh chiến tranh thoáng qua trong tác phẩm Thư cho Nga: Đã tám năm trôi qua, nhưng hình ảnh ngọn lửa bạc ở Tavricheski và những tiếng “reo vui, khát vọng làm theo mệnh lệnh của người lính” vẫn không thôi nung nấu lòng người.

Và cuối cùng là tái hiện nước Nga của quá khứ, để tác giả nói về hiện tại, với mong muốn phần nào tác động đến đời sống xã hội trong nước. Như trong truyện ngắn Cây ma là mong muốn thay đổi sự tàn phá của nhân dân Nga ở thì hiện tại về ký ức và thiên nhiên tươi đẹp của nước Nga mà V. Nabokov luôn gìn giữ.

Nhà nghiên cứu Phạm Gia Lâm viết: “Thước đo” phẩm chất Nga “trong sáng tác của V. Nabokov, trước hết là sự hiện diện của hình ảnh quê hương Nga. Cũng như nhiều nhà văn Nga nước ngoài, tất cả những gì quê hương để lại cho ông khi còn sống ở quê hương là tiếng mẹ đẻ và hồi ức của anh ấy. Và ở Vẻ đẹp ngaChúng tôi đã thấy Nabokov trân trọng những hình ảnh đó như thế nào.

“Ngoài ra, nước Nga của Nabokov – đó cũng là văn học Nga cổ điển, là văn hóa của tầng lớp quý tộc Nga”. Nó được thể hiện trong 17 truyện ngắn trong tập Vẻ đẹp nga. Nơi văn hóa quý tộc được thể hiện một cách tinh tế qua hình tượng người Mỹ gốc Nga Olga, nơi thể hiện văn học cổ điển Nga qua truyện ngắn truyền thuyết. Một câu chuyện song song.

Và có thể nói, với hình ảnh nước Nga của riêng Nabokov, nước Nga trong tâm trí ông, Nabokov hiện lên như một nhà văn không thể tách rời đời sống văn học Nga đương đại. Mặc dù sau khi rời Nga vào năm 1919, ông chưa bao giờ trở về nước một lần nào.

  1. Hình ảnh của V. Nabokov với mối quan hệ văn hóa châu Âu.

Đánh giá vẻ đẹp Nga

Những câu chuyện cá nhân, những câu chuyện nhỏ không đầu không đuôi xuất hiện như một hiện tượng xã hội bất thường được nhắc đến trong truyện ngắn: Dấu hiệu và biểu tượng, Giáng sinh, Cuộc ẩu đả… là một minh chứng cho ảnh hưởng của văn hóa phương Tây mang lại cho tác phẩm của Nabokov. Khi mà trong các tác phẩm của ông không chỉ thể hiện sự “cá nhân hóa tối đa” mà còn tái hiện “không gian cá nhân trong đời sống con người là cuộc sống đích thực”, “khác hẳn với tính nguyên tắc, nhân văn, lẽ thường trong văn hóa Nga”.

>>> Xem thêm :  Biên niên ký chim vặn dây cót – Thế giới thực & ảo

Hay đoạn văn miêu tả, cảm nhận của người dân về cuộc sống ở đất nước: cuộc sống ở nước Đức ở Hướng dẫn du lịch Berlin, Chiếc lá thứ hai từ Nga, Một cuộc ẩu đả… Chứng tỏ, trước cuộc sống mới trong xã hội mới, Nabokov đã tái hòa nhập, có cách nhìn nhận, đánh giá riêng; không già dặn, bảo thủ như Ivan Bunin.

Và trong quan hệ văn hóa phương Tây, là một tác giả lưu vong; xuất hiện ngắn gọn trên mỗi câu chuyện ngắn trong tập Vẻ đẹp nga, đó là chủ thể con người cô đơn, đã đi qua nhiều nước nhưng vẫn thấy “thiếu quê hương”. Như hình ảnh người hành khách, người lữ hành vô định trong truyện ngắn Hành khách. Tuyệt quá Cây ma đó là tiếng nói thương tiếc quá khứ và nỗi đau xót của con người khi nhớ lại một phần tuổi thơ. Hay tình cảm của Erwin dành cho một cô bé 14 tuổi trong Một điểm chung làm tiền đề để tác giả V. Nabokov làm mẫu Humbert trong cuốn tiểu thuyết gây tranh cãi: Lolita sau đó.

Đã lưu vong nhiều nước, mang trong mình cảm giác về một nước Nga cổ điển và hiện đại khi tiếp xúc với văn hóa phương Tây. Nhưng cuối cùng, Nabokov vẫn là một nhà văn Nga hải ngoại với nỗi cô đơn, nỗi buồn và nỗi nhớ của một kẻ lữ hành đã đi nhiều nơi, nhưng cuối đời vẫn không bao giờ trở về nước.

“Thế giới nghệ thuật của V. Nabokov bắt nguồn từ những tác phẩm bằng tiếng Nga, dựa trên nền tảng tinh thần của văn hóa Nga, đồng thời chịu ảnh hưởng của văn hóa Đức, Pháp, Anh và Mỹ” (Nhà nghiên cứu Phạm Gia Lâm). Chính vì vậy, hình ảnh tác giả song ngữ, song ngữ trong văn xuôi Nabokov nói chung, trong tập truyện ngắn. Vẻ đẹp nga Trong đó, có sự xuất hiện phức tạp: giữa một bên là mối quan hệ với văn hóa truyền thống Nga, một bên là mối quan hệ với văn hóa phương Tây tại những quốc gia mà ông từng sinh sống và học tập. Nhưng trong sâu thẳm con người Nabokov, ông vẫn là một nhà văn Nga, một nhà văn Nga ở nước ngoài, là cầu nối giữa Thế kỷ Bạc và chủ nghĩa hậu hiện đại.

Mọt