Kawabata Yasunari – Nét “đẹp và buồn” trong nền văn chương Nhật Bản

Khác với vẻ đẹp có phần cực đoan trong tác phẩm của Mishima Yukio, và khác với vẻ đẹp trần tục, gần như dâm đãng của Tanizaki Junichiro, văn của Kawabata Yasunari đẹp với vẻ đẹp u sầu, đa sầu đa cảm. nhưng sâu sắc, thấm thía. Văn của ông trong văn học Nhật Bản, giống như âm hưởng shamisen truyền thống, thanh tú, nhẹ nhàng nhưng day dứt đến nao lòng.

Đánh giá hàng ngàn cánh hạc

Kawabata Yasunari, cuộc đời và sự nghiệp

Là tác giả Nhật Bản đầu tiên đoạt giải Nobel Văn học danh giá năm 1968, cái tên Kawabata Yasunari nổi lên như cây đa, cây đề, một trong những tác giả vĩ đại nhất của thế kỷ XX và sự tiến bộ của văn học hiện đại. , đương đại của xứ sở Phù Tang. Văn chương của Kawabata Yasunari “đẹp và buồn” với một nét rất riêng, được tạo dựng, trước hết là từ cuộc đời của một nhà văn đã trải qua đủ bi kịch lịch sử và nhân sinh.

Kawabata Yasunari sinh năm 1899 tại Osaka, nhưng năm 2 tuổi, anh mồ côi cả cha lẫn mẹ và phải sống cùng chị gái với ông bà ngoại. Tuy nhiên, năm 7 tuổi, Kawabata mồ côi bà ngoại, năm 9 tuổi mất em gái, năm 14 tuổi ông nội cũng qua đời. Cậu bé Kawabata Yasunari ngày ấy buộc phải lưu lạc đến Tokyo để sống trong gia đình người cô của mình.

Ở tuổi đôi mươi, người phụ nữ mà Kawabata hết mực yêu thương, kể cả khi hai người đã hứa hôn, đã rời bỏ anh mà không một lời từ biệt.

Cả cuộc đời Kawabata, đã không ngừng sống trong mất mát và thiếu thốn tình cảm, đặc biệt là tình yêu của một người phụ nữ như vậy. Do đó, từ những công trình đầu tiên như Ngàn cánh hạc, Xứ tuyếtt đến cuốn tiểu thuyết Hồ Tựa bản lề giữa hai thời kỳ sáng tác vĩ đại và những tác phẩm cuối đời của Kawabata là Người đẹp ngủ trong rừng đẹp và buồn; Cảm giác cô đơn, theo đuổi cái đẹp, khát khao tình yêu, nỗi nhớ hình bóng “đàn bà” sẽ mãi trở thành nỗi đau, ám ảnh trong suốt văn chương của Kawabata.

Tuy nhiên, văn học Kawabata không chỉ là sự phóng chiếu cảm xúc cá nhân lên trang giấy, mà còn mang ý nghĩa như một bức tranh thu nhỏ của xã hội Nhật Bản đương đại.

Sinh năm 1899, mất năm 1972, gần như cả cuộc đời Kawabata Yasunari sống ở thế kỷ XX; Trong gần toàn bộ cuộc đời của mình, ông đã chứng kiến ​​và trải qua lịch sử thế giới và Nhật Bản đầy biến động. Hai cuộc Chiến tranh thế giới diễn ra, đặc biệt là Chiến tranh thế giới thứ hai đã để lại những vết thương lòng sâu sắc cho đất nước và con người Nhật Bản. Từ đống tro tàn của chiến tranh, Nhật Bản vươn lên mạnh mẽ nhưng kéo theo đó là sự mâu thuẫn gay gắt giữa cội nguồn truyền thống và làn gió văn hóa phương Tây ngày càng lan rộng trong đời sống của người dân Nhật Bản.

Mang nỗi cô đơn, nỗi buồn riêng tư và chứa đựng vẻ đẹp u uất của thời cuộc; thấm đẫm hoài niệm nhưng đồng thời cũng hiện đại, tác phẩm của Kawabata Yasunari khơi dậy trong lòng độc giả yêu văn học sự đồng cảm và những rung động thẩm mỹ văn chương tinh tế. Như Viện Hàn lâm Thụy Điển đã nói vào năm 1968, khi Kawabata đoạt giải Nobel văn chương: “Ông là người tôn vinh vẻ đẹp huyễn hoặc và hình ảnh ngũ uẩn của sự hiện hữu trong đời sống tự nhiên và trong số phận con người.”

>>> Xem thêm :  Điểm dối lừa – Khi cả câu chuyện chỉ là sự lừa dối

[Kawabata Yasunari]    Xứ tuyết

Sự nhạy cảm tinh tế trong văn học Kawabata Yasunari

Trước hết, phải khẳng định rằng Kawabata Yasunari không phải là nhà văn đầu tiên, cũng không phải là người duy nhất theo đuổi cái đẹp và thể hiện cái đẹp ấy trên trang văn. Trước anh, nhà văn Akutagawa Ryunosuke đã luôn khao khát vẻ đẹp cực phẩm “trên thân phận phù du” (từ dùng của dịch giả, nhà văn Hoàng Long). Sau Kawabata, cái đẹp luôn là đối tượng để các tác giả Nhật Bản tìm đến, bằng tất cả tình yêu thuần khiết nhất của người sáng tạo nghệ thuật.

Tuy nhiên, trên con đường tìm kiếm và tái hiện cái đẹp trong văn học, Kawabata Yasunari vẫn sáng tạo theo cách riêng của mình. Những sáng tác của ông luôn là những rung động tình cảm tinh tế trước con người, tình yêu và cảnh vật.

Đó là hình bóng của những người phụ nữ xinh đẹp đã xuất hiện trong các tác phẩm của Kawabata kể từ ngày ông lần đầu tiên viết về Vũ công Izu hay vẻ đẹp dịu dàng, hoang dã hay lạnh lùng, yên tĩnh của nàng geisha nơi Xứ tuyết. Là một vẻ đẹp đan xen giữa hiện thực – ký ức của mỗi người phụ nữ còn đọng lại trong tách trà chốn phòng trà Ngàn cánh hạc đến vẻ đẹp thuần khiết chìm sâu vào khuôn mặt Hồ trì trệ. Đó là một vẻ đẹp vừa gần gũi mà lại vừa xa vời, đủ để khiến một thực khách cũ phải lưu luyến. Người đẹp ngủ trong rừng cùng một nét Đẹp và buồn của những người phụ nữ không thể vượt qua nỗi đau của quá khứ.

Và vẻ đẹp của chữ “người” trong trang văn của Kawabata, cũng là hình bóng của những con người luôn theo đuổi chữ “đẹp”. Họ mang trong mình “tình yêu” của một người hiểu cái đẹp và suốt đời luôn theo đuổi cái đẹp nguyên bản, hoàn hảo. Từ chàng lãng tử Shimamura đã có gia đình nhưng năm nào vẫn đến Xứ sở tuyết xinh đẹp đến chàng trai trẻ Kikuji dù ở bên Yukiko nhưng anh vẫn không khỏi nghĩ về Fumiko và tình cảm đã qua với vợ mình. Ota. Từ người đàn ông trung niên luôn mang đôi chân xấu xí nhưng luôn bị phụ nữ có đôi chân đẹp hút hồn cho đến những người đàn ông đã đi đến dốc sau của cuộc đời.

Những con người trên trang văn của Kawabata luôn như vậy, đẹp về thể xác, đẹp về tinh thần. Một vẻ đẹp nguyên sơ không màng đến “luân thường đạo lý”. Một vẻ đẹp vượt lên trên nhục cảm trong thân phận “trẻ thơ” của hai giọng người. Có lẽ vì vậy mà khi đọc các tác phẩm của Kawabata, dù có đề cập đến tình dục, thậm chí là những điều “xấu xa” và tưởng chừng như cấm kỵ thì trang văn vẫn không hề trở nên thô tục, tầm thường.

Cùng với vẻ đẹp con người, văn học Kawabata còn được tạo nên từ những nét đẹp truyền thống của đất nước Nhật Bản. Có thể nói, mỗi sáng tác của anh đã mở ra không gian văn hóa rộng lớn của Nhật Bản, một quốc đảo giàu truyền thống với những con người luôn lặng lẽ gìn giữ những nét đẹp của quá khứ trước sự đổi thay. thay vào đó, thời gian thay đổi. Đó là không gian của Xứ sở tuyết, nơi con người “quay trong tuyết, dệt vải trong tuyết, giặt vải trong tuyết tan, rồi phơi vải trong tuyết. Từ động tác quay đầu tiên đến lần dệt cuối cùng. của vải, mọi thứ đều xảy ra trong tuyết. Trong các cuốn sách cổ đã viết rằng phải có tuyết để có vải chijimi, hoặc chijimi được sinh ra từ tuyết. ” Vẻ đẹp của buổi trà đạo được ghi lại trong phòng trà chứa đầy kỷ niệm của gia đình Kikuji. Đó là nghệ thuật hội họa, lễ hội đom đóm lấp lánh bên bờ hồ, mùa xuân trên dãy núi Arashi mưa bụi, tiếng chuông ngân xa cố đô, tiếng sóng vỗ rì rào giữa đại dương …

>>> Xem thêm :  Đại gia Gatsby vĩ đại – Mặt trái của giấc mơ Mỹ

Và tất cả những điều đó, vẻ đẹp của con người, của tình và của cảnh đều được Kawabata khắc họa bằng giọng văn và ngôn ngữ đẹp đẽ, tinh tế. Một vẻ đẹp mà dù trải qua quá trình dịch sang ngôn ngữ khác vẫn không thể phai mờ. Một vẻ đẹp gợi lên sự tỉ mỉ, sâu sắc, cô đọng trong từng câu chữ; gợi nhớ về một Nhật Bản cổ kính và hiện đại giữa thế kỷ XX. Cái hay mà trong câu mang chất thơ, chất nhạc, chất hình hoạ. Có cảm giác, vẻ đẹp của ngôn từ trong văn chương của Kawabata Yasunari đã trở thành một loại “con đường”, giống như bắn cung, kiếm đạo, trà đạo,… “Oki đứng trên đỉnh đồi và ngắm hoàng hôn tím. […] Màu tím ở trời Tây càng lúc càng cao. Có lẽ sương giăng giăng mà tím thẳm khiến sương như làn mây mỏng. Hoàng hôn màu tím là một cảnh rất hiếm. Màu sáng đậm dần thành tối, mờ ảo như ai cầm cọ quét qua giấy ướt. “(Đẹp và buồn)

Không nhuốm màu bi quan tột độ, cũng không nhuốm màu cam chịu yếu đuối, vẻ đẹp trong văn chương của Kawabata là vẻ đẹp luôn biến đổi, vận động. Vì vậy, thẩm mỹ mà Kawabata Yasunari mang đến cho người đọc là thẩm mỹ nhẹ nhàng, trầm lắng, sâu lắng như một dòng chảy ngầm, thức tỉnh lương tri.

Đẹp và buồn

Nỗi buồn tràn ngập vẻ đẹp trong những lời nói của Kawabata Yasunari

Tuy nhiên, nói đi cũng phải nói lại, dù Kawabata dành cả cuộc đời đi tìm cái đẹp và thể hiện cái đẹp ấy trên trang văn nhưng cuối cùng, tác phẩm của ông vẫn luôn hướng đến chữ “buồn”. Nỗi buồn sâu thẳm đằng sau vẻ đẹp hoang sơ là bóng tối và ký ức phủ bóng hiện tại, kéo dài từ tuổi trẻ với nhiều đam mê và đam mê đến tuổi trung niên với nhiều thiếu sót cho đến chiều muộn chỉ còn lại nỗi nhớ. , mong.

Nhưng dù cùng một từ “buồn”, mỗi cá nhân trên trang Kawabata lại buồn theo một cách riêng. Nói cách khác, nỗi buồn trong các tác phẩm của Kawabata là nỗi buồn có nhiều dạng.

Nỗi buồn của một chàng lãng tử, phiêu du tìm kiếm cái đẹp khác với nỗi buồn của một nàng geisha khao khát được yêu và được yêu. Nỗi buồn của chàng thanh niên còn vất vưởng sau vong linh người cha chết dưới mái nhà chè và nỗi ám ảnh về vết bớt của người phụ nữ tàn độc như rắn độc khác hẳn nỗi buồn của những cô gái trẻ đang tìm cách bỏ trốn. . quá khứ, thích làm lại cuộc đời. Nỗi buồn của một người đàn ông trung niên khiếm khuyết về thể xác, thiếu thốn cả tâm hồn và trí nhớ khác với nỗi buồn của một cô gái trong thực tại vật chất, cuộc đời bị trói buộc. Nỗi buồn của một người đàn ông khi xế chiều nhìn lại quãng đời đã qua, khác hẳn nỗi buồn của một người đàn bà từng trải qua cơn điên mất con, đến ngày nay vẫn còn ám ảnh …

>>> Xem thêm :  Nỗi buồn màu xanh lá – Ai cũng có một thời như lá để xanh

Đau buồn có nhiều khía cạnh, nhiều tầng như số phận, như một sợi chỉ đỏ, một mạch ngầm xuyên suốt các sáng tác của Kawabata Yasunari. Từ nỗi buồn khi bàn vắng, thời gian nặng trĩu ấy mà hình tượng con người Kawabata xây dựng trên trang viết luôn mang một nỗi cô đơn khôn nguôi. Người ta cô đơn ngay cả khi ở bên nhau, ngay cả trong giây phút hạnh phúc nhất. Chính vì đơn độc mà con người ta khao khát tìm đến những cực hình, hoài niệm về một thời vàng son của ký ức hay thậm chí là điều cấm kỵ vi phạm “luân thường đạo lý”. Nhưng người ta buồn vì cô đơn hay càng cô đơn càng buồn? Có lẽ là cả hai. Và hai khía cạnh đó, tạo thành một mối quan hệ, giống như một vòng luẩn quẩn chiếm lấy tâm trí và cuộc sống của mỗi người.

Để rồi, khi nỗi buồn không tìm được lối thoát, cái chết trở thành cứu cánh, cứu rỗi tâm hồn mỗi cá nhân. Tuy nhiên, nỗi buồn, nỗi cô đơn, cái chết đã trở thành nỗi ám ảnh, nỗi đau trong văn học Kawabata nói riêng, và văn học Nhật Bản nói chung.

Cái chết của thể xác, và cái chết của linh hồn những con người vẫn đang đi một mình trên con đường tăm tối của cuộc đời. Cái chết của những người vẫn đang đi tìm cái đẹp như một biểu tượng cho mảnh ghép hoàn hảo còn thiếu cho tâm hồn. Rộng hơn, đó là cái chết của những người, âm thầm tìm kiếm “cái tôi” cá nhân của họ, trong cuộc khủng hoảng danh tính, bắt nguồn từ thời hậu chiến.

Nhưng dù viết nhiều về nỗi buồn, về cái chết đầy ám ảnh, văn chương của Kawabata chưa bao giờ, chưa bao giờ hết “tuyệt vọng” hay đẩy con người ta đến con đường “tuyệt vọng”. Vì đến cuối cùng, mỗi cá nhân Kawabata đã tạo ra, vẫn tiếp tục sống giữa thế giới còn nhiều đau khổ. Ngay cả khi thân xác mất đi, đó cũng là cách, họ tìm được cách sống về mặt tinh thần khi đã trải qua đủ đau khổ của con người.

Và khi soi gương khát khao đi tìm cái đẹp với nỗi buồn, nỗi cô đơn của mỗi kiếp người trên trang sách về cuộc đời của chính Kawabata, chúng ta càng hiểu sâu sắc hơn về cái tôi mà Kawabata đã từng khao khát yêu thương, phải đối mặt với điều này như thế nào. mạng sống. Bản thân anh đã mất đi hơi ấm của một người phụ nữ cả đời: anh mất cha mẹ, em gái và người bà mà anh sống cùng đã sớm qua đời khi anh còn rất nhỏ. Khi trưởng thành, người phụ nữ mà anh yêu và định cưới lại không chịu kết hôn. Vì vậy, tác phẩm của Kawabata như phản chiếu một tâm hồn mất tích trên trang giấy. Từ đó thấu hiểu để rồi đồng cảm với những mâu thuẫn, dằn vặt, mặc cảm, một khát khao hay đam mê dang dở của mỗi người trước cái đẹp, trước tình yêu, trước sự vẹn toàn của cuộc đời. .