Chinh phụ ngâm – Chiến tranh và hòa bình qua lăng kính của người chinh phụ.

“Con chim én” của Đặng Trần Côn là tiếng than khóc thê lương của một người phụ nữ có chồng ra trận, thương tiếc cho tình yêu đôi lứa, cho mái ấm gia đình, cho thân phận một con người nghèo khổ trong thời buổi sóng gió. bị tiêu diệt, có những cuộc chiến tranh phi nghĩa, những âm mưu bá quyền, cuối nhà Lê, chúa Trịnh. Tác phẩm có địa vị lịch sử văn học đặc biệt trong văn học cổ và là kiệt tác văn học viết bằng chữ Việt Nam.

Conqueror đọc đánh giáachnet

Là triều đại lâu đời nhất so với các triều đại Việt Nam, nhưng tình hình đất nước dưới thời Lê Trung Hưng (1533 – 1789) lại vô cùng loạn lạc, từ nội chiến Lê – Mạc đến Trịnh – Nguyễn, chiến tranh liên miên. . Bước sang nửa đầu thế kỷ 18, cũng là những chương cuối của triều đại, ngai vàng thối nát, vua quan tham dục, ích kỷ đã đẩy nhân dân vào cảnh nồi da xáo thịt, bất hòa, ly tán, cha mẹ xa con. , vợ xa chồng. Nông dân bất bình nổi dậy khắp nơi.

Văn học thời kỳ này phản ánh bản chất tàn bạo của giai cấp thống trị, đồng thời chuyển tải nỗi đau của những nạn nhân dưới cảnh binh đao, máu me. Tác phẩm “Con chim én” của Đặng Trần Côn không phải là một ngoại lệ của trào lưu văn học đó, nhưng nó vẫn mang một nét đặc sắc mới như đề cao quyền sống, khát vọng tình yêu và hạnh phúc lứa đôi.

Đọc thêm các bài phê bình về tác phẩm thơ:

>>> Xem thêm :  7 quyển sách hay về thực dưỡng đọc để sống vui sống khỏe

Bản gốc tiếng Trung.

“Tụng chúa” (tựa gốc là “征 婦 ​​吟”) hay còn gọi là “Chinh phụ ngâm khúc” (征 婦 吟 曲), ra đời vào khoảng năm 1741, là một bài thơ đặc sắc của Trung Quốc. Ngay khi xuất hiện trên văn đàn, nó đã gây được ấn tượng lớn không chỉ trong giới nho sĩ Việt Nam, mà cả giới văn sĩ Trung Quốc. Ngày nay, “Người chinh phụ ngâm” vẫn giữ vị trí là một kiệt tác đáng tự hào trong kho tàng văn học Việt Nam, và đã được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới.

Đặng Trần Côn sử dụng thể thơ tự do, lối cổ, từ ngữ phong phú (như bài “Ly tao” của Khuất Nguyên), gồm 476 câu thơ dài ngắn, câu dài nhất khoảng 12, 13 chữ, câu ngắn gọn. . chỉ có 3 hoặc 4 chữ cái.

Mượn lời độc thoại nội tâm của người vợ có chồng tham gia cuộc chiến do triều đình phong kiến ​​khởi xướng, “Chinh phụ ngâm” là một bản trường ca rất dài. Trong đó là niềm hy vọng về một tương lai khải hoàn, nỗi sợ hãi khủng khiếp về số phận của người thân giữa cuộc chiến khốc liệt, tâm trạng cô đơn đến cùng cực, nỗi lo cô đơn khi chồng quá hạn. không trở lại, có tuyệt vọng và tuyệt vọng, có ước mơ đoàn tụ.

Tràn đầy tình yêu. Ngôn ngữ đẹp, uyển chuyển, đầy nhạc tính. “Chinh phụ ngâm” là thiên đường thơ trữ tình bất hủ.

Tiết mục Nôm của nữ danh ca Hồng Hà.

Mang nét duyên dáng của một kiệt tác, “Chinh phụ ngâm” đã được nhiều tài năng văn học dịch ra chữ quốc ngữ, trong đó bài Nôm sớm nhất – và có lẽ là truyền cảm nhất là của Hồng Hà, nữ sĩ Đoàn Thị Điểm, người bạn văn của chị. . thời gian của tác giả.

Bài Nôm của Phan Huy Ích ra đời sau 70 năm, kế thừa và cải tiến bản dịch của Đoàn Thị Điểm. Nhưng không ngoa khi nói rằng bản dịch của Đoàn Thị Điểm là truyền cảm nhất, bởi chính bà cũng từng mang tâm trạng như người vợ lẽ – chỉ một tháng sau ngày cưới, chồng bà là Tiến sĩ Nguyễn Kiều. đã phải dẫn đầu một phái bộ đến Trung Quốc trong ba năm liên tiếp.

>>> Xem thêm :  Thiếu Nữ Đánh Cờ Vây – Giấc mơ về một tình yêu bất khả

“Chinh phụ ngâm khúc” của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm bắt đầu từ sâu thẳm tâm hồn người phụ nữ phương Đông, bằng sự thấu hiểu tâm tư tình cảm, cùng một thể thơ nhưng mang đậm âm hưởng dân gian. Bằng học vấn và tài năng của mình, ông đã khéo léo chuyển hóa các tác phẩm kinh điển… tất cả đã góp phần tạo nên một vở Nôm đặc sắc, một tác phẩm tiếng Việt xuất sắc nhất, thêm phong phú và đẹp đẽ. đối với nền văn học dân tộc.

“Chinh phụ ngâm khúc” đã làm say đắm biết bao thế hệ yêu thơ suốt hơn hai thế kỷ rưỡi qua. Nhiều câu ca dao đã in sâu vào tâm trí hàng triệu người:

Sương như búa phá cây liễu,

Tuyết như muốn cắt và làm khô héo những cành ngô.

Giọt sương phủ đầy bụi chim ruồi,

Sâu trong vách, tiếng chuông chùa ngân vang ”.

Conqueror đọc đánh giá

Chiến tranh và hòa bình qua lăng kính của kẻ chinh phục.

“Người chinh phụ ngâm” luận giải một luận điểm cơ bản của xã hội phong kiến ​​đương thời cũng là một vấn đề nóng bỏng của thời đại: chiến tranh và hòa bình.

Căm phẫn chiến tranh phi nghĩa và khao khát hòa bình, thống nhất đất nước.

“Khi trời đất nổi gió bụi,

Khách hàng có má hồng thì phiền lắm ”.

Một khi chiến tranh nổ ra, hàng vạn gia đình tan rã, tạo nên số phận bi thảm của những kẻ chinh phạt và chinh phạt. Chiến tranh giành quyền bá chủ, chiến tranh bảo vệ ngai vàng của phong kiến ​​là những cuộc chiến tranh phi nghĩa, mưu lợi cá nhân, xây dựng quyền lực, vơ vét kho bạc rồi sa vào dục lạc, hưởng thụ. tàn bạo, ích kỷ nhưng không hề nghĩ đến những con người khốn khổ, cơ cực ngoài kia.

Luận điểm đó đứng vững trên lập trường của chủ nghĩa nhân đạo, từ đó vạch trần mâu thuẫn giữa lợi ích ích kỉ của vua chúa và lợi ích của quần chúng nhân dân. Trong khi kẻ chinh phạt bị đẩy đến chiến trường đầy chết chóc, kẻ chinh phạt không có chồng sống một cuộc đời dài trong đau thương, tại tòa án “Có gấm trên mái nhà không? ”

Một bên phơi bày bộ mặt dã man tàn khốc của chiến tranh, bên còn lại đầy khát khao hòa bình, đoàn tụ:

Ước mơ đoàn tụ của người chinh phụ cũng là khát vọng hòa bình của quần chúng nhân dân trong thời chiến loạn lạc, tang tóc lúc bấy giờ.

Tác phẩm “Chinh phụ ngâm” khẳng định một chân lý chắc chắn rằng hòa bình là điều kiện tiên quyết của hạnh phúc con người và tình yêu đôi lứa. Tiếng nói phản đối chiến tranh phi nghĩa và khát vọng hòa bình qua lăng kính của người chinh phụ mang tầm vóc cao quý về tình yêu, đức độ và trí tuệ của người phụ nữ Việt Nam thế kỷ XVIII.

Tìm hiểu thêm về tác giả Đặng Trần Côn.

Cuộc đời của Đặng Trần Côn để lại nhiều dấu hỏi cho hậu thế, cả về thời gian sinh ra và giấc ngủ vĩnh hằng của ông.

Các nhà nghiên cứu ước tính, ông sinh khoảng năm 1705 – 1720, mất khoảng năm 1745, cùng thời với Hồng Hà, nữ sĩ Đoàn Thị Điểm (1705 – 1749), dòng dõi Chương Túc Quốc công thượng thư Trần Nguyên Đán (ông nội. ). của Nguyễn Trãi).

Đặng Trần Côn quê ở làng Nhân Mục, huyện Thanh Trì, nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Ông thi Hương, nhưng lại trượt kỳ thi Hội. Về sau, ông làm Đốc học trường phủ, rồi tri huyện Thanh Oai, rồi thăng Ngự sử đài.

Ngoài “Đinh Phù Điệp”, di sản văn học của Đặng Trần Côn chỉ còn lại một số bài như “Tiêu Tương Bá Cảnh”, ba bài phú “Trương Hàn Tử thuần lô”, “Trương Lương khai tâm”, “Kiệu thanh. chủ đề ”. Thơ Đặng Trần Côn vừa gần gũi thiên nhiên, vừa đi sâu khám phá tình cảm con người, lòng trắc ẩn phức tạp, sâu lắng, nhất là mặt đỏ.

Tuy sự nghiệp văn học để lại cho thế giới không quá lớn nhưng Đặng Trần Côn vẫn là một cái tên có nhiều đóng góp cho nền văn học Việt Nam, và “Người đàn ông ngâm mình” là một viên ngọc văn học sáng chói theo năm tháng.